Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Huyện Vĩnh Lộc

CHÙA DU ANH, ĐỘNG HỒ CÔNG - XÃ VĨNH NINH - HUYỆN VĨNH LỘC

Đăng ngày 30 - 11 - 2012
100%

 Từ thành phố Thanh Hóa, theo Quốc lộ 45 về phía Tây khoảng 40km chúng ta sẽ đến với quần thể Di tích - Danh thắng cấp Quốc gia: Động Hồ Công, chùa Du Anh cổ kính uy nghiêm và thơ mộng thuộc địa phận xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

1. Chùa Du Anh (chùa Thông):

Nằm dưới chân dãy núi Xuân Đài là ngôi chùa Du Anh tên nôm gọi là chùa Thông. Tương truyền, chùa được xây dựng vào thời nhà Lý. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, đến triều đại nhà Trần, ngôi chùa lại gắn với tích vua Trần Nghệ Tông đưa công chúa Du Anh về lễ chùa, thưởng ngoạn. Khi đến đây thấy cảnh trí sơn thủy hữu tình, Nhà vua đã phát tâm công đức cho sửa chùa, đắp tượng hương khói quanh năm, từ đó chùa được mang tên gọi là chùa Du Anh (theo cuốn chùa xứ Thanh tập 1 trang 59).

Đầu niên hiệu Hoằng Định, thời Lê Trung Hưng (1601- 1619), có ngài Trịnh Vĩnh Lộc người xã Sáo Sơn, huyện Vĩnh Phúc, phủ Thiệu Thiên (nay thuộc xã Vĩnh Hùng huyện Vĩnh Lộc) đã được phong Tuyên lực Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ, Đô đốc đồng tri, tước Quảng quận công đã xuất tiền tôn tạo lại ngôi chùa, từ 1601 đến năm 1605 thì làm xong.

Ngôi chùa được xây dựng trên một khu đất bằng phẳng, cảnh trí hữu tình, lấy núi Xuân Đài làm hậu chẩm, núi Trác Phong làm tiền án. Xưa kia, bên tả chùa có gác Ngọc Hoàng, bên hữu chùa có am Công chúa. Hai bên nách chùa lại có hai hồ nước Nhật, Nguyệt do thiên nhiên tạo thành, bốn mùa nước trong vắt nhìn xuống tận đáy.

Hiện nay, qua cổng tam quan, chúng ta bắt gặp 2 linh vật thời nhà Trần đó là tượng voi quỳ và sư tử được tạo tác bằng đá trắng nguyên khối, trên bệ đá có khắc hình hộp, hoa văn sóng nước. Trong quần thể di tích hiện còn lưu giữ bia ký và bài minh do Thượng thư Phùng Khắc Khoan soạn năm Hoằng Định thứ 6 (1605) ca ngợi công đức của Quảng quận công Trịnh Vĩnh Lộc đối với ngôi chùa. Bia đá thuộc nhóm bia hộp được tạc từ mỏm đá nguyên khối cao 2,5m, cả 4 mặt đều khắc chữ Hán. Mặt trước có tên “Trùng tu Xuân Đài sơn, Hồ Công động, Du Anh tự bi”, mặt sau khắc niên đại “Ngày lành tháng 10 niên hiệu Hoằng Định thứ 6 (1605). Nội dung bia đá khắc tên các bậc vua, chúa, hoàng thân quốc thích, quan lại trong triều đã đóng góp tiền của trùng tu lại chùa.

Bên trong chùa Du Anh, các tượng phật được bài trí hợp lý toát lên vẻ uy nghiêm mà gần gũi của đạo phật.

Hàng năm, vào ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch, du khách thập phương và nhân dân trong huyện lại nô nức trẩy hội truyền thống đầu xuân được tổ chức tại chùa Du Anh nhằm thỏa nguyện tâm linh, cầu cho một năm mưa thuận gió hòa và chiêm ngưỡng cảnh đẹp của động Hồ Công. Theo truyền thuyết, ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch là ngày Ngọc Hoàng giáng thế và nhằm ngày Mậu Ngọ mùng 9 tháng giêng năm Hồng Đức thứ 7 (1476) vua Lê Thánh Tông về thăm động Hồ Công có làm bài thơ khắc trên vách động Hồ Công vì vậy nhân dân đã lấy ngày này để tổ chức lễ hội truyền thống.

2. Động Hồ Công:

Từ chùa Du Anh, theo lối mòn chân núi chếch về hướng Đông Nam là thắng tích động Hồ Công. Các bậc đá xếp tự nhiên từ thấp lên cao thành lối mòn đưa chúng ta lên tới động. Trên đường đi lên động du khách bắt gặp một phiến đá lớn khắc 4 chữ Hán “Thanh Kỳ Khả Ái” nghĩa là “ Màu xanh kỳ lạ đáng yêu”, một chứng tích về lòng ngưỡng mộ của các bậc tao nhân mặc khách xưa trước phong cảnh thiên nhiên mỹ lệ của động Hồ Công.

Đứng trước cửa động, phóng tầm mắt ra xa, cả một vùng non nước xứ Thanh hiện rõ trong đó có núi Tiến Sĩ, hình một nhà nho áo mũ chỉnh tề đang ngồi suy tư đọc sách. Ngước nhìn lên phía trên vòm cửa động, ta thấy ba chữ Hán ghi “Hồ Ngọc Động”, vách đá bên phải cửa động đề 4 chữ Hán lớn “Sơn Bất Tại Cao” do Hồng Anh cư sĩ Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du đề. Dựa vào câu: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tất linh; Giang bất tại thâm, hữu long tất ứng” nghĩa là núi không cao mà có tiên sẽ linh thiêng; sông không sâu mà có rồng sẽ linh nghiệm, ý nói núi ở đây không cao nhưng rất linh thiêng vì là nơi có thần tiên ở đó là nhân vật Hồ Công Long và Phí Trường Phòng.   

Động Hồ Công được người xưa liệt vào “Tam thập lục động, Hồ Công vị đệ nhất” nghĩa là động Hồ Công được liệt vào 36 động đẹp của nước Nam. Theo sách Đại Nam nhất thống chí mô tả: “Có khối đá trông như hình con cóc cúi đầu ngồi trong động, thạch nhũ trong động sắc đỏ lại có hang đá quanh co dài mười trượng, chỗ tận cùng có giếng đá sâu khôn cùng…”. Chính sự kỳ công của tạo hóa mà Hoàng đế Lê Thánh Tông phải thốt lên “Thần chùy quỷ tạc vạn trùng san” nghĩa là: Động Hồ Công, vẻ đẹp như có quỷ thần soi tạc nên.

Động Hồ Công có chiều dài 45m rộng 23m, cửa mở rộng luôn sẵn sàng đón khách trần lên chơi cõi tiên. Tương truyền xưa kia có một ông già vai đeo quả bầu nhỏ thường ra chợ bán thuốc chữa bệnh, tối đến ông lại thu mình chui vào quả bầu để ngủ. Người ta thấy lạ hỏi: Quả bầu nhỏ thế mà sao ông vào ngủ được? ông già nói: Nhà ngươi có muốn chui vào thử xem thế nào không? Người ấy bằng lòng ông liền hóa phép cho anh ta chui vào trong quả bầu thì thấy trong đó có đủ trời, đất, trăng sao nhà cửa…Người ấy chính là Phí Trường Phòng, biết ông già là bậc đại tiên nên đã theo học đạo và sau này cũng đắc đạo thành tiên. Hai thầy trò ở trong động đá trên dãy núi Xuân Đài rồi đi vào bất tử để lại hình hài hóa thành hai pho tượng đá trong động ngày nay.

Trên vách đá của động có nhiều bài thơ đề vịnh của các thi sĩ, danh nhân. Năm 1463 vua Lê Thánh Tông một vị vua có tài trị nước, giỏi văn chương nhân chuyến du ngoạn lên núi Xuân Đài thăm động Hồ Công thấy mình như được tới cõi tiên cảm hứng làm bài thơ khắc vào đá:

Thần chùy qủy tạc vạn trùng san

Dư thất cao song vũ trụ khoan

Thế thượng công danh đô thị mộng

Hồ trung nhật nguyệt bất thắng nhàn

Hoa Dương long hóa huyền châu trụy

Bích lạc truyền lưu bạch ngọc hàn

Ngã dục thừa phong lăng tuyệt lĩnh

Vọng cùng vân hải hữu vô gian

Dịch thơ:

Quỷ thần xây dựng núi muôn trùng

Nhà rỗng song cao giữa khoảng không

Cõi tục công danh đều huyền ảo

Bầu tiên ngày tháng xiết thong dong

Hoa Dương rồng hóa châu rơi rớt

Bích lạc dòng xuôi ngọc lạnh lùng

Cưỡi gió ta mong lên chót núi

Xem mây cao tít nước mêng mông

(trích trong cuốn Thanh Hóa Vĩnh Lộc huyện chí, tác giả Lưu Công Đạo)

Sau vua Lê Thánh Tông, vị vua Lê Hiến Tông nhân bái yết Lam Kinh cũng dừng thuyền lên núi Xuân Đài vin mây nhẹ bước theo dấu chân phụ Hoàng cũng ngự chế đề thơ.

 Vào những năm 1750- 1754 Nguyễn Nghiễm thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du khi đi thảo phạt quân giặc Ai Lao trở về cũng lên thăm động đề thơ ca ngợi. Gần hai mươi năm sau chúa Trịnh Sâm đến thăm động Hồ Công với cảm xúc kỳ lạ về một chốn tiên trong trẻo cao hứng viết thơ :

“Tằng tằng nham kính chuyển bàn vu;

 Cao xứ hàm nha Ngọc nhất Hồ…”

Dịch thơ:

“Trập  trùng nẻo đá lượn quanh co

 Đỉnh núi cao nhô một Ngọc Hồ...”

 

<

Tin mới nhất

KHẢO SÁT ĐIỂM DU LỊCH TẠI THẮNG TÍCH NÚI KIM SƠN(26/12/2018 4:02 CH)

Hội nghị Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững - Thủ tướng...(31/07/2018 7:31 SA)

Hoa sen ở nơi đồng chiêm trũng(26/06/2015 2:26 SA)

Làng cổ Đông Môn xã Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc(10/06/2015 2:26 SA)

VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT BỒNG (26/11/2014 2:23 SA)

ĐỀN THỜ, BIA KÝ TRỊNH KHẢ - XÃ VĨNH HÒA(25/08/2014 2:22 SA)

THẮNG TÍCH KIM SƠN – XÃ VĨNH AN(25/08/2014 2:22 SA)

KHU TƯỢNG ĐÁ ĐA BÚT – XÃ VĨNH TÂN (30/11/2012 10:31 CH)